Phân tích bài thơ Việt Bắc của tác giả

Bài làm

Có biết bao trận chiến đã lùi xa, có biết bao oanh liệt hào hùng đã được ghi lại nơi sử sách đỏ son, và ngày hôm nay chúng ta vẫn không thể ngừng tự hào vè điều đó. Xưa nay, nhắc đến Tố Hữu người ta lại nghĩ ngay đến môt hồn thơ mang nhiều âm hưởng pha trộn. Đó là một hồn thơ mang đậm tính dân tộc đậm đà, vô cùng hào hùng và mãnh liệt như thác ghềnh kia. Đó lại là một hồn thơ da diết giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Hay chỉ đơn giản là một hồn thơ sống trữ tình chính trị với giọng điệu như tâm tình thủ thỉ mà vẫn thiết tha khôn cùng. Bài thơ “Việt Bắc” chính là một minh chứng cho điều đó, vừa là một bản hùng ca ghi lại thời kì  gian khổ nhưng hào hùng, cũng chính là một bản tình ca tươi xanh ca ngợi tình cách mạng thủy chung son sắt.

“Việt Bắc” ra đời khi cuộc chiến ttranh chống Pháp vừa kết thúc, hòa bình sau đó một lần nữa được lặp lại tại miền Bắc. Ngay sau đó, các cơ quan Ttrung Ương và chính phủ chuyển công tác từ thủ đô gió ngàn về thủ đô Hà Nội.

Mở đầu bài thơ là lời nhắn nhủ tha thiết của người ở lại:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn

Cách xưng hô “mình-ta” vô cùng thân thiết và gần gũi gợi cho ta nhớ đến cái ngọt ngào tình tứ và sự gắn bó thắm thiết giữa người đi và kẻ ở lại. Cách xưng hô ấy được lặp lại bốn lần khiến ta hình dung được phần nào nỗi cô đơn của người ở lại , và trong tâm trí của người ở lại lúc này chỉ ngập tràn bóng hình của người về xuôi. Câu hỏi đặt ra cho người đi là hai câu hỏi liên quan đến không gian và thời gian thực chất chỉ là hình thức mà người ở lại nhắc nhở người về xuôi về một thời kháng chiến, một vùng kháng chiến. Các hình ảnh: sông, núi, nguồn còn ngầm thể hiện đạo lí tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn”của dân tộc Việt Nam ta .

Khổ thơ thứ hai chính là lời đáp ân tình của người về xuôi đối với ở lại :

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

“Tiếng ai” là một cụm từ phiếm chỉ gợi đến âm hưởng ngọt ngào của ca dao, cho ta hình dung sự lưu luyến, không nỡ rời của người về xuôi đối người ở lại. “Tha thiết” giống như cảm xúc chân thành bật lên từ trái tim, chỉ cần nghe tiếng mà đã hiểu thấu lòng nhau. Những tính từ “bâng khuâng”, “bồn chồn” thể hiện nỗi lòng của người kháng chiến về xuôi, đó là mênh mông trống vắng hiện thành trạng thái phấp phỏm lo âu đến cả bước đi dáng đứng. Hai câu thơ đầu tiên của khổ thơ này cho ta thấy được tình Cách Mạng đẹp đẽ như tình tri âm tri kỉ.

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Hình ảnh “áo chàm” là hình ảnh hoán dụ chỉ những Việt Bắc, tác giả đã rất khéo léo khi lấy sắc áo chỉ sắc lòng, trong lòng mỗi người ở lại đều mang một nỗi buồn ảm đạm trống vắng. Và xúc động hơn hết chính là khoảnh khắc bất ngôn, ấy chính là khi tình cảm gắn bó đều không có một từ ngữ nào có thể diễn tả hết đành gửi trọn vẹn hết vào hơi ấm đôi bàn tay nhau .

Có những khắc sâu vào trong lòng mỗi người đi, kẻ ở để đến khi những câu hỏi cứ nối dài mãi ra. Những ngày tháng dù khổ cực gian truân, những miếng cơm không đủ no, những manh áo không đủ ấm cũng thật may vì chúng ta vẫn cùng nhau trải qua tất thảy những điều đó.Khổ thơ sử dụng kết cấu đối đáp và thể thơ lục bát đã một phần nào giúp cho cuộc chia tay cảm động nhưng không mang màu sắc bi thương mà ngược lại rất trong sáng, vì đó là cuộc chia tay của những người vừa làm nên chiến thắng.

Mười hai câu lục bát tiếp theo cũng chính là sáu câu hỏi tu từ liên tiếp đã gợi nhắc lại những kỉ niệm đẹp trong quá khứ về một thời kháng chiến oanh liệt:

Xem thêm:  Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Mình về, còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

Người ở lại hỏi để gợi nhớ về những ngày tthangs gian khổ, gian khổ vì thiên nhiên khắc nghiệt, vì vật chất thiếu thốn nhưng không khuất phục được con người bởi vì hoàn cảnh càng khó khăn thì ý chí con người lại càng lướn lao và bền vững. Hỏi, cũng là để gợi nhớ về tình cảm gắn bó giữa con người và thiên nhiên nơi núi rừng này. Đến cả rừng núi cũng biết thương nhớ giống như những tâm hồn, tác giả đã lấy tuej nhiên thiên nhiên để miêu tả về nỗi nhớ của con người, cho thấy cả một vùng hoang vu và trống trải. Hơn nữa hai hình ảnh “lau  xám” và “lòng son” cho ta thấy sự đối lập, hoàn cảnh sống càng khắc nghiệt thì nghĩa tình càng thêm thắm đượm. Người ở  lại còn gợi nhắc người về xuôi về mảnh đất cội nguồn, về không gian và thời gian những buổi dầu mới kahngs chiến. một đại từ “mình” duy nhất để chỉ hai đối tượng cho thấy sự gắn bó hòa hợp giữa nhười đi và kẻ ở. Và đặc biệt, “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” là những hình ảnh mà người ở muốn khắc sâu vào tâm trí của ngườ về xuối, nhắc nhở rằng đó là cội nguồn, là biểu tượng và là những gì đẹp đẽ nhất cảu Việt Bắc.

Những câu thơ tiếp theo của khổ thơ tiếp theo chính là lời thề thủy chung của người kháng chiến về xuôi, là lời hóa giải cho những băn khoăn chất chưa trong lòng của người ở lại:

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

Điệp từ vòng “mình-ta” “ta-mình” khẳng định nghĩa tình gắn bó như keo sơn, vô cùng khăng khít. các tính từ láy “mặn mà”, “đinh ninh” là lời thề khắc cốt ghi tâm trươc sau như một, cho dù có như thế nào thì lòng của những người kháng chiến về xuôi vẫn luôn hướng về Việt Bắc và con người nơi đây. tác giả sử dụng mô típ so sánh cảu dân gian , lấy cái vô tận để so sanh với cái “nghĩa tình” nhằm khẳng định tình cảm lớn lao và luôn tràn trề như suối nguồn kia không bao giờ vơi cạn.

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

Ta đi, ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Nhớ nắng cháy lưng

Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

Nhớ sao i tờ

Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

Người ra đi tiếp tục giãi bày nỗi nhớ mênh mang trong lòng và minh chứng lười thủy thủy chung ấy, Nỗi nhớ “ như nhớ người yêu” là nõi nhớ khó diễn tả, mênh mang trống vắng khôn nguôi, phép so sánh này đã thể hiện được những cung bậc cảm xúc khác nhau khi nhớ về mảnh đất Việt Bắc. Minh chứng lời thề thủy chung ấy, người kháng chiến về xuôi đã nhớ về không gian Việt Bắc, không gian ấy mơ mộng giữa khói sương, huyền ảo như ánh trăng nơi đầu núi ban chiều, ấm áp bởi bếp lửa bập bùng, hay quen thuôc ình dị như rặng nứa, bờ tre…… Tất cả thể hiện một tình yêu quê hương đất nước nói chung, và tình yêu với Việt Bắc nói chung vô cùng lớn lao và cao cả.

phan tich bai tho viet bac - Phân tích bài thơ Việt Bắc của tác giả Tố Hữu chọn lọc hay nhất

Phân tích bài thơ Việt Bắc

Người ra đi  còn nhớ về cuộc sống sinh hoạt gian khổ thiếu thốn nơi núi rừng. Đó là những ngày tháng ăn thiếu ăn nhưng không đói, thiếu mặc nhưng không rét, là những ngày tháng đến củ sắn bát cơm cũng chia nhau từng chút. Đó là hình ảnh người mẹ Việt Bắc địu con lên nương bẻ bắp nuôi bộ đội, là những lớp học đơn sơ mà vui vẻ đầy ắp những tiếng cười. Đó cũng chính là những âm thanh quen thuộc vang lên vọng vào sâu thẳm những núi những rừng.

Xem thêm:  Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng chọn lọc hay nhất

Và nỗi nhớ lắng đọng lại trong tâm trí người kháng chiến về xuôi là những gì rực rỡ và đẹp đẽ nhất, là sự hòa hợp hoàn hảo nhất giữa con người và thiên nhiên, tạo nên nhũng bức họa vừa hoang sơ thuần hậu, vừa tự nhiên lại rất gần rất thương:

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ chính là hai câu thơ đầu, nỗi nhớ “những hoa cùng người”thể hiện sự hài hòa quấn quýt giữa những gì tinh túy nhất của thiên nhiên và những gì tinh túy nhất của đất trời ta. Bức tranh mùa Đông với khung cảnh mở ra nền xanh mênh mông trầm mặc, điểm xuyết trên gam màu lạnh đặc trưn của mùa Đông ấy là chút đỏ tươi của hoa chuối rừng, tinh tế như sự rung động của thi nhân trươc cảnh đẹp ngỡ ngàng. Và con nguời vẫn hiện lên trong tư thế lao động, xuất hiện ở vị trí đỉnh cao thể hiện tầm vóc kì vĩ và tư thế hiên ngang vững trãi của những con người phục vụ và làm chủ núi rừng. Bức tranh mùa Xuân thì dịu dàng và thuần khiết hơn với gam màu trắng nền nã làm chủ đạo, khung cảnh thơ mộng mơ màng phủ kín cả không gian cho  ta thấy sức sống và nhựa xuân tràn ngập khắp đất trời vùng Tây Bắc vốn rất hoang sơ bí ẩn. Ngược lại với bức tranh mùa Đông, con người trong bức tranh xuân hiện lên thầm lặng và cần mẫn ngồi “chuốt từng sợi giang” để phục vụ kháng chiến, phục vụ lao động. Chợt ta lại thấy con người Việt Bắc sao lại khéo léo, tỉ mỉ và tài hoa đến thế!!!!!

Nàng Hạ và nàng Thu lại đỏng đảnh và yểu điệu hơn khi phô ra những nét đẹp vô cùng rực rỡ và quyến rũ:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu  trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

Mở đầu bức tranh mùa Thu chính là âm thanh đặc trưng và quen thuộc của núi rung, nó khuấy động rộn rã cả một vùng trời. Động từ “đổ” được sử dụng khéo léo vô cùng của tác giả khiến ta hình dùng được cả một khung trời chuyển màu vàng khi nghe tiếng ve gọi hè. Cô gái hái măng hiện lên giwuax trung tâm của bức tranh nhưng không cho ta thấy sự cô đơn, lạc long mà ngược lại ta cảm nhân thấy được sự bao bọc trìu mến của mẹ thiên nhiên dành cho con người mảnh đất này. Một khung cảnh, một bức tranh nữa hiện lên đầy thơ mộng giữa ánh trăng màu bạc, không gian chợt ngập tràn ánh sáng, ngập tràn sự êm đềm như thơ. Và ta dường như thấy ánh trang ấy đẹp hơn bao giờ hết, khi đã soi rọi cuộc sống hòa bình của nhân dân sau những đêm gian khổ vất vả và muôn vàn khó khăn. Con người trong bức tanh này xuất hiện gián tiếp qua tiếng hát ai kia vang vọng lại, thi nhân đã rất tinh tế khi cảm nhận bức tranh mùa thu bằng cả tâm hồn mình….

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

Mênh mông bốn mặt sương mù

Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.

Ai về ai có nhớ không?

Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng

Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng

Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà…

Những đường Việt Bắc của ta

Những ngày tháng kháng Pháp gian khổ trong những buổi đầu, thiên nhiên “giăng thành lũy”, “vây quân thù” , là trợ thủ đắc lực cho cách mạng ta, là những anh hùng nghĩa tình như chính con người nơi đây. Và con người hiện lên trong những buổi đầu kháng chiến đã rất kiên cường, rất đoàn kết, rất anh hùng vượt qua khó khăn thử thách.Chúng ta phát huy hết nhúng sức mạnh cũng như bằng những truyền thống quý báu đã giành được những chiến công đầu tiên gắn với các địa danh như: Phủ Thông, Nhị Hà……

Xem thêm:  Ngạn ngữ Nga có câu: "Chiến trường thử thách người dũng cảm, cơn giận thử thách người khôn ngoan, khó khăn thử thách bạn bè". Suy nghĩ của bạn về câu...

Bức tranh Việt Băc ra quân hiện lên vô cùng hùng tráng và dữ dội với các hình ảnh đặc sắc, nghệ thuật và vô cùng đẹp mắt:

Những đường Việt Bắc của ta

Ðêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Tin vui chiến thắng trăm miềm

Hòa Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về

Vui từ Ðồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

Không gian rộng lớn, khí thế ngút trời  của cuộc ra quân đã khái quát được tầm vóc và sức mạnh của chúng ta. Cuộc kháng chiền trường kì ngày đêm không kể với sự kiên trì và quyết tâm của đoàn quân đã giúp chúng ta giành những chiến công vô cùng hiển hách. Đó là sức mạnh của đoàn quân chủ lực với lực lượng đông đảo hùng hâu, đó là sức mạnh của đoàn dân công với số lương vô cùng đông đảo có khả năng san bạt cả núi rừng, có thể đi “nát đá’’ sẵn sang đạp bằng mọi choog gai thử thách đi tới chiến thắng, đó cũng chính là sức mạnh của  lực lượng xe cơ giới trong bối cảnh hết sức hùng tráng và kì vĩ. Hình ảnh “ đèn xe bật sáng” cho thấy một  thứ ánh sáng mạnh mẽ, đột khởi , có thể xé tan màn đêm. Khổ thơ sửu dụng nhịp thơ nhanh, các hình ảnh liên tiếp, dồn dập, âm hưởng hùng hồn cho thấy vẻ đẹp của khúc ca khải hoàn thời đại anh hùng. Và những công lao chúng ta bỏ ra đã được đền đáp khi lập được những chiến thắng, Việt Bắc hiện lên ở trung tâm bức tranh, là cội nguồn của niềm vui, là thủ dô của kháng chiên. Bản đồ kháng chiến được vẽ ra từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc……

Sau bức tranh hào hùng của cuộc ra quân, tác giả vô cùng tinh tế khi thay đổi giọng thơ của mình sang một cách trang trọng và thiêng liêng:

Ai về ai có nhớ không?

Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang.

Nắng trưa rực rỡ sao vàng

Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công

Ðiều quân chiến dịch thu đông

Nông thôn phát động, giao thông mở đường

Giữ đê, phòng hạn, thu lương

Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu…

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Mười lăm năm ấy ai quên

Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa

Mình về mình lại nhớ ta

Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào.

Tác giả khép lại bài thơ bằng nỗi nhớ về cụ Hồ và Trung Ương đảng, Nhà nước bằng niềm hy vọng lớn vào tương lai. Đề cao sự quan trọng và tầm vóc của các trung ương chỉ huy đầu não, và cội nguồn kháng chiến của toàn dân là Việt Bắc. Qua đây ta cảm nhận rõ rang được vô cùng lớn lao và lòng yêu nước yêu dân tộc của tác giả. Hai câu thơ cuối chính là câu trả lời cho cả bài thơ, cho dù người kháng chiến có về xuôi, hay đi bất cứ đâu chăng nữa, thì cuối cùng lòng của người xưa vẫn vẹn nguyên và chung thủy với con người Việt Bắc, thiên nhiên Việt Bắc và mảnh đất Việt Bắc

Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu có thể coi là một trong nhũng kiệt tác về thơ kháng chiến. Qua đó còn thể hiện rõ niềm tin tưởng, tin yêu vào Đảng, vào Cụ Hồ, qua đó thể hiện lòng yêu nước sâu sắc và lòng tự hào dân tộc lớn lao. Thành công của bài thơ thể hiện được tài năng và tấm lòng của tác giả. Ngoài ra thể thơ lục bát được viết với giộng điệu thủ thỉ tâm tình đã giúp bài thơ đi đến gần và dễ dàng hơn với người đọc, đưa cho người đọc thấy được vẻ đẹp của con người cũng như thiên nhiên Việt Bắc bằng những hình ảnh say đắm lòng người.

Nhung Kem

Từ khóa tìm kiếm

Topics #Bếp lửa #Cảm nhận #chiến thắng #chiến tranh #con người #cuộc sống #kỉ niệm #lao động #lớp học #người mẹ #niềm tin #phân tích #phân tích bài thơ việt bắc #tác giả Tố Hữu #thời gian #Tố Hữu #uống nước nhớ nguồn #văn học #Việt Bắc