Đề bài: Phân tích bài thơ Tràng Giang của nhà thơ

    Bài làm

Thơ mới là sự kết hợp của truyền thống và , nó được xem như một làn gió mới thổi hồn vào nền văn học Việt Nam. Nhắc đến thơ mới chúng ta không thể không nhớ tới những tên tuổi mang nhiều dấu ấn như Chế Lan Viên, Xuân Diệu hay nhưng chỉ khi đến với Huy Cận ta mới cảm được nỗi buồn thiên cổ của lúc bấy giờ. Trong sự nghiệp sáng tác của ông, tác phẩm “Tràng Giang” là xuất sắc hơn cả, bởi nó thể hiện rõ nét phong cách sáng tác của Huy Cận. Bài thơ khắc họa một nỗi sầu vạn cổ, nỗi buồn khi không chấp nhận cái tương phản giữa khôn cùng của vũ trụ với cái nhìn hữu hạn của đời người.

Bài thơ được mở ra bởi lời đề từ tiết lộ cho người đọc một phần nội dung tác phẩm:

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.

Trong lời đề từ ta không hề thấy bóng dáng của con người, nhưng ta vẫn thấy phảng phất đâu đó nỗi buồn vạn cổ trước thiên nhiên rộng lớn. Phải chăng đứng trước thiên nhiên rộng lớn con người cảm thấy mình nhỏ bé, cô đơn. Qua nhãn quan của tác giả ta thấy thiên nhiên trở thành một vật thể sống động, có tâm hồn. Hơn thế nỗi buồn của con người trải dài choáng ngợp cả không gian, “rộng” và “dài” làm nỗi buồn cứ thế trải ra miên man không một điểm dừng. Từ đây ta đã hiểu đây là một bức tranh tâm cảnh sâu sắc.

Ngay mở đầu bài thơ, tác giả đã mang đến một bức tranh thiên nhiên trầm mặc:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Trong bài thơ của mình, Huy Cận thường sử dụng những hình ảnh vô cùng quen thuộc như “sóng”, “thuyền”, “củi”,…nhưng người đọc vẫn nhận ra điểm sáng tạo của nhà thơ. Nỗi buồn phủ lớp sóng “điệp điệp”, trôi xuôi như trải ra từ lòng nhân vật trữ tình ra cảnh sắc thiên nhiên.Có rất nhiều từ tả sóng: sóng xô, sóng trào, sóng vỗ,.. nhưng chỉ có “sóng gợn” là thích hợp hơn cả. Dường như bao nhiêu gợn sóng là bấy nhiêu nỗi buồn của tác giả. Điều đặc biệt ở chỗ câu thơ có bảy chữ nhưng sáu chữ miêu tả hình ảnh tràng giang, chỉ có một từ “buồn” miêu tả tâm trạng. Thế nhưng nó lại đứng cạnh “điệp điệp” nên đã gợi cho người đọc một nỗi buồn lan tỏa ra muôn trùng sông nước. Và trên dòng sông ấy có một “con thuyền xuôi mái” nhưng buồn một nỗi “thuyền về nước lại” nghĩa là thuyền và nước mỗi người trôi theo mảnh đời riêng. Nỗi buồn ấy không chỉ biểu hiện trong một hay hai hình thức mà nó xuất hiện trong trăm ngả. Cuối cùng hình ảnh cành củi khô lạc lõng, lẻ lõi giữa dòng sông đã tác động mạnh tới cái nhìn của người đọc. Nếu ở ba câu thơ trên ta thấy mang âm hưởng cổ điển, thì đến đây ta thấy sự đổi mới trong thơ Huy Cận. Cái mới mẻ là ở chỗ một thứ tưởng chừng như tầm thường lại phản ánh ý nghĩa lớn lao. Trước thiên nhiên và vũ trụ ta như thấy cái hữu hạn của kiếp người. Thơ Huy Cận quả thực là đỉnh cao của phong trào thơ mới.

Xem thêm:  Kết thúc tác phẩm Số phận con người, nhà văn M.Sôlôkhôp viết: "Không... nóng bỏng lăn trên má anh". Dưa vảo tác phẩm và suy nghĩ của bản thân, em hãy phát biểu ý kiến về lời trữ tình ngoài đề nói trên

Sang đến khổ thơ thứ hai ta mới thấy nhà thơ nhắc tới hình ảnh con người, thế nhưng nó lại xuất hiện một cách rời rạc, lẻ loi:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên cao chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

phan tich bai tho trang giang cua huy can - Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận chọn lọc hay nhất

Phân tích bài thơ Tràng Giang

Mở đầu khổ thơ thứ hai, tác giả gợi ra một khung cảnh quạnh quẽ, vắng lặng của thiên nhiên bằng các từ:”lơ thơ”, “đìu hiu”. Không chỉ vậy, hình ảnh con người cũng hiện lên cô đơn, lạc lõng. Như chúng ta đã biết chợ là thước đo kinh tế của một vùng, vậy là khu chợ này từ chiều đã vội vãn, chợ chiều tối đã buồn chợ vãn nay còn buồn hơn. Điều này chứng tỏ khó khăn, nghèo nàn của con người nơi đây. Phải chăng đây cũng là một trong những nguyên nhân tạo ra nỗi buồn của nhà thơ, bởi ông từng cho rằng không có gì vui bằng buổi chợ đông, không có gì buồn bằng buổi chợ tàn. chiều tối khiến cho không gian lúc ấy như cao hơn, rộng hơn và vì thế con người lại càng nhỏ bé, buồn bã. Giưã không gian mênh mông ấy, ta chợt thấy lòng người “cô liêu”. Chỉ bằng vài nét chấm phá mà Huy Cận đã khiến cho độc giả cuốn theo cảm xúc của mình. Dường như con người ta cũng đang buồn bã nghĩ về kiếp người, cuộc đời mà thương cho số phận của nhân vật trữ tình.

Xem thêm:  Cho đề bài "Em hãy thuật lại (kể lại) chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 Tết đến ngày mồng năm tháng Giêng". Em hãy viết đoạn văn mở bài cho bài viết trên

Cả tác phẩm của mình, nhà thơ đa số dùng hình ảnh thiên nhiên, vạn vật để bộc lộ tâm trạng của mình. Đến đây ta mới hiểu hết ý nghĩa câu nói:”người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Từng vần thơ, ý thơ như đang cố gắng hết mình truyền đạt lại những tâm tư, tình cảm của tác giả:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Nỗi buồn cứ thế theo bèo nối hàng tiếp nhau, phải chăng Huy Cận muốn dùng hình ảnh những cây bèo để viết về lúc bấy giờ phó mặc cho dòng đời xô đẩy không biết về đâu hay đang ở đâu. Buồn hơn là trên dòng sông ấy không có lấy một chuyến đò. Nhà thơ như đang tìm kiếm một sự sống, một bóng dáng con người nhưng điều đó là không thể thực hiện. Đáp trả lại sự tìm kiếm của tác giả chỉ là sự lặng lẽ vô tình của thiên nhiên.

Để rồi nỗi nhớ thương quê hương của một người con nơi đất khách quê người lại trỗi dậy trong lòng nhân vật trữ tình:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vờn con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Hình ảnh ngay đầu khổ thơ gợi ra cho người đọc nhiều hình ảnh liên tưởng, về một thiên nhiên kì vĩ, tuyệt đẹp long lanh ánh bạc trước những tia nắng. Trên phông nền ấy cánh chim xuất hiện như một nét chấm phá tạo ấn tượng cho người đọc. Hình ảnh cánh chim là chất liệu quen thuộc trong thơ ca Việt Nam, ví như trong tác phẩm “Chiều tối” của Hồ Chí Minh có nhắc:”chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ” và khi hoàng hôn xuống cũng là lúc nỗi nhớ quê nhà trong lòng tác giả dấy lên da diết. Huy Cận đã rất tinh tế sử dụng các từ láy, điệp từ để diễn tả cảm xúc mà ở đây là “dợn dợn” nỗi nhớ quê hương. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà thơ, nhà văn sử dụng buổi chiều tối là quãng thời gian nhớ về quê nhà. Có lẽ đó là khi sau một ngày làm việc vất vả tất cả mọi người cùng về nhà ăn tối. Cảm giác ấy không phải chỉ xuất hiện trong vô thức mà nó đã thường trực trong lòng tác giả. Vì thế mà “không khói hoàng hôn” cũng nhớ nhà. Nỗi buồn của người con xa quê cao hơn cả nỗi buồn nhân thế, nỗi đau đời. Dưới những lớp sóng lớp mây kia đã ấp ủ một lòng yêu nước thầm kín.

Xem thêm:  Kể lại buổi sinh hoạt của lớp em

Bài thơ là một sự kết hợp hài hòa giữa thơ ca truyền thống và thơ ca hiện đại tái hiện lại nỗi buồn nhân thế, nỗi sầu vạn kỉ của một thế hệ gợi tình yêu quê hương tha thiết trong mỗi con người. Không chỉ vậy “Tràng Giang” giống như một thông điệp của Huy Cận gửi tới các thế hệ độc giả nhắc nhở về tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước.

                                            Vic Vic

Topics #Cảm nhận #con người #cuộc sống #hiện đại #Huy Cận #phân tích #Phân tích bài thơ Tràng Giang #Số phận con người #Tế Hanh #thời gian #Tràng Giang #tưởng tượng #văn học